|
|||||||
|
|
Giải pháp phát triển trang trại ở Bắc Giang
Cập nhật :Thứ tư, 3-3-2010
Kinh tế trang trại (KTTT) ra đời là bước chuyển tất yếu của nền sản xuất hàng hoá, khơi dậy tiềm năng trong dân cư để chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển ngành nghề, dịch vụ. KTTT ở Bắc Giang thời gian qua đã khai thác hiệu quả thế mạnh của các vùng, miền, góp phần xoá đói giảm nghèo. Toàn tỉnh hiện có 3.067 trang trại (trong đó trang trại cây ăn quả 708, trang trại lâm nghiệp 44, trang trại chăn nuôi 451, trang trại thuỷ sản 269, trang trại tổng hợp 1.595), tăng 1.927 trang trại so với năm 2003. KTTT đã khai thác có hiệu quả diện tích đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp đang sử dụng kém hiệu quả. Từ năm 2002 đến năm 2007, tổng diện tích chuyển đổi từ ruộng trũng cấy lúa một vụ không ăn chắc sang nuôi trồng thuỷ sản là 4.142 ha, trong đó chuyên cá 2.100 ha, lúa-cá kết hợp 2.042 ha. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản toàn tỉnh là 11.588 ha, năng suất trung bình đạt 1,35 tấn/ha, sản lượng đạt 16.950 tấn. Toàn tỉnh có 2.290 ha nuôi cá tập trung với quy mô diện tích từ 3 ha trở lên có năng suất đạt 3-4 tấn/ha. Toàn tỉnh đã có 318 trang trại chăn nuôi, trong đó có 250 cơ sở chăn nuôi lợn với quy mô từ 100 con/lứa trở lên. Trên địa bàn hình thành vùng chăn nuôi gia cầm hàng hoá tập trung theo quy mô trang trại, gia trại. Đến nay, tổng số trang trại chăn nuôi gia cầm khoảng 280 trang trại với quy mô trên 3,5 triệu con tập trung ở huyện Yên Thế, Lục Nam, Tân Yên... Việc hình thành và phát triển KTTT giúp nông dân làm quen với kinh tế thị trường, thích ứng với nhiều loại cây trồng, con gia súc có yêu cầu kỹ thuật cao, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo nhu cầu hợp tác, quan hệ giữa các chủ trang trại và giữa trang trại với doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, nhà khoa học; tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Điểm nổi bật của trang trại thời gian qua là có sự gắn kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đây cũng là lợi thế để đưa kinh tế trang trại của địa phương phát triển. Tuy nhiên, việc hình thành và phát triển KTTT trên địa bàn vẫn còn gặp một số khó khăn. Một số sản phẩm đặc biệt là quả vải thiều đang gặp khó khăn trong tiêu thụ. Nhiều trang trại tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn trong thời gian ngắn nhưng lại khó bảo quản, chế biến. Trong khi đó chưa gắn với quy hoạch vùng sản xuất và các cơ sở chế biến khiến việc tiêu thụ gặp khó khăn. Bên cạnh đó, hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn (đường giao thông, điện...) mặc dù đã được đầu tư song còn yếu kém, đây cũng là trở ngại lớn đối với sự phát triển mô hình kinh tế này. Khâu chế biến sản phẩm chưa phát triển nên đầu ra cho sản phẩm của trang trại thiếu ổn định. Đặc biệt, nhiều trang trại trên địa bàn rất cần vốn để đầu tư sản xuất kinh doanh nhưng việc vay vốn từ các tổ chức tín dụng còn khó khăn do thiếu tài sản thế chấp, thiếu thông tin về các nguồn vốn cho vay và các thủ tục cho vay. Ngoài ra, việc hỗ trợ đào tạo, khoa học công nghệ, cung cấp thông tin, xúc tiến đầu tư và xúc tiến thương mại cho trang trại ít được quan tâm, còn mang tính hình thức, chưa thường xuyên. Công tác quản lý nhà nước về KTTT còn nhiều hạn chế, việc sửa đổi, bổ sung một số cơ chế, chính sách tuy đã thực hiện nhưng còn chậm. Mặc dù Nghị quyết 03 của Chính phủ và các chính sách của Nhà nước về phát triển KTTT được triển khai, tỉnh đề ra những giải pháp và cơ chế chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển trang trại nhưng chưa có sự thống nhất cao của các ngành, các cấp. Quan điểm này thể hiện trong phương thức làm việc còn có sự phân biệt nhất định giữa các loại hình, giữa các đơn vị sản xuất thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Phần lớn các chủ trang trại chưa được đào tạo, sản xuất - kinh doanh dựa vào kinh nghiệm là chủ yếu. Nhiều trang trại chưa biết cách lập phương sản sản xuất kinh doanh, phương án đầu tư để tổ chức quản lý khoa học cũng như tiếp cận các nguồn vốn cho vay. Các chủ trang trại thiếu thông tin về thị trường lao động, nguyên vật liệu, thiết bị công nghệ, thị trường xuất nhập khẩu cũng như công nghệ thông tin. Đa phần các trang trại chưa nhận thức được mức độ ảnh hưởng trực tiếp của quá trình toàn cầu hoá, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến hoạt động sản xuất - kinh doanh để phấn đấu nâng cao năng lực cạnh tranh. Khả năng liên kết giữa các trang trại theo ngành và khu vực còn hạn chế, sự hợp tác giữa các trang trại với nhau, giữa các trang trại với doanh nghiệp, HTX và hộ gia đình chưa chặt chẽ dẫn đến hạn chế chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như sức cạnh tranh của các trang trại trên địa bàn, chưa khai thác được lợi thế, quy mô của khu vực kinh tế này. Để khắc phục những khó khăn trên giúp mô hình kinh tế này phát triển ổn định thời gian tới cần thực hiện những giải pháp hỗ trợ tích cực. Cần tăng cường tuyên truyền Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP, ngày 2-2-2000 của Chính phủ về phát triển KTTT tới các cấp, các ngành, các cơ sở và người dân để có thông tin đầy đủ, thống nhất về các chính sách đối với KTTT. Xây dựng quy hoạch phát triển KTTT của tỉnh, từng địa phương dựa trên quy hoạch sử dụng đất đai, quy hoạch sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và chế biến tiêu thụ sản phẩm, quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng để khai thác lợi thế, tăng cường sự quản lý và hỗ trợ của Nhà nước, tạo điều kiện nâng cao sức cạnh tranh, giảm thiểu sự phát triển tự phát của trang trại. Tạo điều kiện cho trang trại tiếp cận các nguồn vốn để bổ sung thêm nguồn vốn sản xuất kinh doanh. Tăng cường hiệu lực công tác của cơ quan quản lý nhà nước đối với KTTT. Các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan đến trang trại ở các cấp, cần bố trí cán bộ có trách nhiệm hướng dẫn các thủ tục liên quan về tài chính, đất đai. Các phòng chuyên môn được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về KTTT cần phân công phân nhiệm cụ thể. Định kỳ hàng năm tổ chức sơ kết phong trào phát triển KTTT, động viên kịp thời những tập thể và cá nhân điển hình để nhân rộng. Nguyễn Văn Thành
Bacgiang Online Các tin khác
Đoàn kết, chung sức chung lòng thực hiện thắng .. (Thứ tư, 3-2-2010 )
Đảng bộ và nhân dân Bắc Giang đoàn kết, phấn đấu .. (Thứ hai, 1-2-2010 )
Mít - tinh trọng thể kỷ niệm 80 năm Ngày .. (Thứ hai, 1-2-2010 )
Thành lập đoàn liên ngành kiểm tra giống vật nuôi (Thứ ba, 26-1-2010 )
Phát triển cây ăn quả tại Bắc Giang: Đầu tư cho .. (Thứ hai, 25-1-2010 )
Văn phòng các cơ quan hành chính nhà nước: Triển .. (Thứ năm, 21-1-2010 )
Tổng kết công tác lãnh đạo năm 2009 và Cuộc vận .. (Thứ tư, 20-1-2010 )
Nâng cao hiệu qủa mô hình liên kết "4 nhà" (Thứ tư, 20-1-2010 )
TP Bắc Giang: 11 điểm bán hàng, hoa Tết (Thứ tư, 20-1-2010 )
18 doanh nghiệp cam kết giúp đỡ 13 xã nghèo .. (Thứ tư, 20-1-2010 )
Bắc Giang nâng hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Thứ hai, 18-1-2010 )
Công ty cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Bắc Giang: .. (Thứ tư, 13-1-2010 )
Lục Ngạn: Sản xuất 3.500 ha vải thiều an toàn (Thứ tư, 13-1-2010 )
Chuẩn bị hàng hoá phục vụ Tết Canh Dần: Bảo đảm .. (Thứ ba, 12-1-2010 )
Nâng cao hiệu quả Cuộc vận động "Người Việt Nam .. (Thứ ba, 12-1-2010 )
Bốn doanh nghiệp Bắc Giang đoạt Cúp vàng sản .. (Thứ hai, 11-1-2010 )
|
||||||
|
|
|||||||
|
|||||||