Thứ tư, 8-2-2012Trang chủ  | Doanh nghiệp  | Liên kết  | Liên hệ  |  EngLish

Tỷ giá

Giá vàng 9999
 
Tỷ giá ngoại tệ
 

Thăm dò

Giảm sút mạnh
Có giảm đôi chút nhưng không đáng kể
Không bị ảnh hưởng !

Trang chủ Công nghiệp Điện lực - Năng lượng
LUẬT ĐIỆN LỰC VÀ NHỮNG CÂU HỎI LIÊN QUAN
Cập nhật :Thứ ba, 3-8-2010

 

I. Luật Điện lực và những câu hỏi xung quanh vấn đề đầu tư

            Hỏi: Điều 11, LĐL quy định đơn vị phân phối điện có trách nhiệm đầu tư xây dựng trạm điện. Nếu bây giờ bên mua điện đề nghị mua điện có công suất tương đối (phải có trạm điện), nhưng phía bên bán điện (cũng là bên phân phối) nói rằng họ chưa có kế hoạch đầu tư phát triển lưới điện phân phối tại địa điểm đó, như vậy có được không? Không lẽ bên mua điện phải chờ hoặc đăng ký trước thì mới được cấp điện?

            Trả lời: Trường hợp chưa có lưới điện phân phối hoặc lưới điện phân phối bị quá tải thì phải có xác nhận của Cục Điều tiết Điện lực và thông báo cho bên mua điện biết và dự kiến thời gian cấp điện (nếu không có thoả thuận khác).

            Hỏi: Cũng tại điều 11, LĐL  áp dụng cho tất cả các khách hàng có yêu cầu về trạm biến áp chuyên dùng, kể cả cấp điện áp 35kV, 110kV có đúng hay không? Có phải rất khó cho việc thực hiện đối với khách hàng sử dụng biến áp chuyên dùng?

            Trả lời: áp dụng cho mọi đối tượng. Trường hợp này phải thoả thuận kỹ trong Hợp đồng mua bán điện công tơ và trạm chuyên dùng đặt ở vị trí quản lý của bên nào thì bên đó có trách nhiệm quản lý.

            Hỏi: Để giảm bớt vốn đầu tư. Công ty Điện lực chỉ lắp đặt công tơ đo phía trung thế, như vậy trạm biến thế nằm sau công tơ sẽ do khách hàng đầu tư có đúng không?

            Nhưng đơn vị đầu tư khu dân cư, chung cư căn cứ khoản 3 điều 11 để yêu cầu Công ty Điện lực đầu tư trạm hạ thế và công tơ cho từng hộ. Chi phí này sẽ rất lớn, Công ty Điện lực có thể từ chối hay không?

            Trả lời: Tại khoản 3, Điều 11 LĐL quy định: " Đơn vị phát điện, truyền tải điện, phân phối điện có trách nhiệm đầu tư xây dựng trạm điện, công tơ và đường dây dẫn điện đến công tơ bán điện". Theo đó nếu công tơ ở phía cao thế thì trạm biến áp khách hàng đầu tư sẽ nằm phía sau công tơ này.

            Công ty Điện lực không được từ chối việc đầu tư trạm hạ thế và công tơ cho từng hộ.

            Hỏi: Khách hàng yêu cầu ngành điện cung cấp một đường dây và trạm biến áp 1000kVA để sản xuất, bên bán điện bỏ vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu của bên mua điện, nhưng giả dụ khi sử dụng bên mua điện chỉ sử dụng tối đa 300kVA. Như vậy đã có sự lãng phí đầu tư, ai phải chịu trách nhiệm?

            Trả lời: Tại điều 16 LĐL về tiết kiệm trong sử dụng điện: Tại tiết d khoản 1 có nêu: Bảo đảm hệ số công suất theo tiêu chuẩn kỹ thuật kỹ thuật và hạn chế tối đa việc sử dng non tải thiết bị điện. Hiện nay chưa có chế tài nhưng khi ký kết hợp đồng nguyên tắc và hợp đồng mua bán điện nên thể hiện rõ.

            Hỏi: Khi khách hàng sử dụng điện bỏ tiền đầu tư đường dây và trạm điện sau ngày 01/7/2005 nhưng không có thoả thuận khác thì nay có phải thoái hoàn đầu tư hay không (nếu khách hàng có yêu cầu)?

            Trả lời: Nếu bên bán điện thực hiện bán điện thì bên bán phải trả tiền đầu tư đường dây và trạm điện cho khách hàng.

            Hỏi: Khi khách hàng thoả thuận tự đầu tư lưới và trạm thì các chi phí thẩm định, tư vấn giám sát, tư vấn thiết kế, họ có phải chịu không?

            Trả lời: Điều này thực hiện theo quy định của Pháp luật về đầu tư.

            Hỏi: LĐL quy định đơn vị phân phối có trách nhiệm đầu tư xây dựng trạm điện, công tơ và đường dây dẫn điện đến công tơ để bán điện. Như vậy, toàn bộ công trình điện này là tài sản của ngành điện. Nhưng tại điểm h khoản 1 điều 8 Nghị định 105/2005/NĐ-CP lại quy định hành vi sử dụng công trình điện để cấp điện cho tổ chức khác là vi phạm. Đề nghị giải thích rõ?

            Trả lời: LĐL còn quy định trừ các thoả thuận khác nên tài sản có thể còn của bên mua. Sau công tơ cao thế có thể còn có công trình điện của bên mua. Chắc sau một vài năm nữa nhiều đường dây và trạm điện chưa thể bàn giao ngay cho ngành điện được v.v….

            Hỏi: Hiện nay các trạm biến áp 15/0,4kV do Công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh cấp máy biến thế cho khách hàng thuê bao, khách hàng đầu tư các vật tư thiết bị khác.  Theo LĐL quy định Công ty thu tiền thuê máy biến áp hàng tháng thì có đúng không?

            Trả lời: Chỉ đúng khi công tơ đặt phía cao áp. (Như đã giải thích ở trên).

            Hỏi: Điều 12 quy định: địa phương phải bố trí quỹ đất để xây dựng công trình điện. Vậy đất để xây dựng trạm 110kV và hành lang tuyến thuộc trách nhiệm của UBND cấp tỉnh hay cấp huyện? và bộ phận/đơn vị trực thuộc nào của địa phương là đơn vị chịu trách nhiệm chính.

            Trả lời: Theo quy định của Luật Đất đai đã phân cấp cho cấp tỉnh, huyện chịu trách nhiệm. (Lưu ý: Chỉ cấp đất làm trạm, cột điện, còn đất trong hành lang chỉ là quy hoạch tuyến, không cấp đất).

            Hỏi: Tại khoản 1 điều 24 LĐL quy định bên bán điện phải đầu tư lắp đặt đến công tơ, trừ trường hợp thoả thuận khác. Vậy:

            - Thoả thuận khác là gì? ví dụ do bên bán thiếu vốn và cùng bên mua thoả thuận lắp đặt trạm khách hàng đầu tư sau đó giao tài sản cho bên bán quản lý, không cần hoàn trả vốn đầu tư, lắp đặt trạm hàng tháng (khách hàng tự nguyện) thì có sai luật không?

            - Việc đầu tư này là vốn của ngành điện, việc sử dụng vốn đều có kế hoạch hàng năm. Vậy nếu không đủ vốn hay khách hàng không có kế hoạch lắp đặt trạm hay đăng ký trước thì ngành điện có thể từ chối cung cấp trong năm và hẹn năm sau không?

            Trả lời: Có thể thoả thuận về đầu tư xây dựng. Trường hợp bên bán thiếu vốn cùng bên mua thoả thuận lắp đặt trạm …, sau đó bên mua không cần hoàn trả vốn thì tài sản đó vẫn của bên mua. Như vậy không sai luật.

            - Nếu ngành điện không đủ vốn hay khách hàng không có kế hoạch lắp đặt trạm đăng ký trước thì ngành điện chỉ có thể từ chối cung cấp trong năm khi có ý kiến của cơ quan đầu tư điện lực.

            Hỏi: Khoản 3 điều 11 LĐL, khoản 2 điều 3 Nghị định 105 quy định việc đầu tư lưới điện, trạm biến áp đến công tơ trong phạm vi quản lý là thuộc trách nhiệm của đơn vị phân phối điện. Như vậy, có phải các trạm chuyên dùng cấp điện cho cao ốc, khách sạn, Điện lực cũng phải đầu tư? Nếu đúng thì nhà nước có chính sách gì để đáp ứng vốn đầu tư cho loại hình này?

            Trả lời: Nếu bên mua yêu cầu mua điện cao thế (công tơ dặt phía sơ cấp máy biến áp) thì bên mua tự đầu tư trạm biến áp hạ thế.

            Hỏi: Tại khoản 1,2 Điều 3 Nghị định 105 quy định việc đầu tư xây dựng trạm, đường dây, công tơ trừ có thoả thuận khác, sẽ trái với khoản 3 điều 11 Luật Điện lực. Vậy sẽ hiểu như thế nào về vốn đầu tư, khấu hao, bàn giao đối với khách hàng?

            Trả lời: Không trái với quy định của LĐL vì tại khoản 2 điều 39, khoản 2 điều 41 của LĐL quy định quyền và nghĩa vụ của đơn vị phát điện, phân phối điện đã có quy định này.

            Hỏi: Trường hợp thoả thuận có lợi cho Điện lực ( ví dụ trách nhiệm đầu tư như trước khi áp dụng LĐL ) nhưng khách hàng không đồng ý thì Điện lực có quyền không đồng ý cung cấp điện có được không?

            Trả lời: Điện lực không được không đồng ý.

            Hỏi: Điện lực có quyền từ chối cung cấp điện cho khách hàng? Nếu có thì trong điều kiện nào?

            Trả lời: Quy định tại Điều 7. Điểm a,b, khoản 2 điều 46, Điểm a,b, khoản 2 điều 47.

            Hỏi: Điểm d khoản 1 Điều 46 và hướng dẫn về an toàn điện được hiểu như thế nào? mức độ ra sao?

            Trả lời: Có thể hiểu là việc cung cấp thông tin, tuyên truyền, tờ rơi… hướng dẫn an toàn điện.

            Hỏi: Trường hợp tiếp nhận lưới điện nông thôn, chỉ sửa chữa tối thiểu do thiếu kinh phí, thì chất lượng điện năng không đạt yêu cầu có xét là vi phạm quy định hay không?

            Trả lời: Như Điện lực Bắc Ninh đang làm. Tất nhiên ngay ban đầu khi mới tiếp nhận chất lượng điện áp xấu là lý do khách quan. Trường hợp này không vi phạm Luật nhưng phải có lộ trình cải thịên điện áp, phải thể hiện rõ trong hợp đồng mua bán điện.

            Theo quy định đơn vị phân phối điện có trách nhiệm đầu tư đường dây dẫn điện, trạm điện và hệ thống đo đếm.

            Hỏi: Vì nguồn vốn hạn chế không thể đáp ứng nhu cầu phát triển khách hàng mới, Điện lực tỉnh có từ chối việc cấp điện được không?

            Trả lời: Trường hợp chưa có lưới điện phân phối hoặc lưới điện phân phối quá tải phải có xác nhận của cơ quan Điều tiết Điện lực.

            Hỏi: Đối với khách hàng trước đầy phần dùng đường dây, trạm biến áp do khách hàng đầu tư, nay bị hư hỏng thì chi phí khắc phục sửa chữa do bên bán điện hay bên mua điện chịu?

            Trả lời: Nếu chưa bàn giao thì bên mua chịu.

            Hỏi: Nếu trạm biến áp khách hàng cần nâng công suất thì trách nhiệm thuộc về ai?

            Trả lời: Phụ thuộc vào sở hữu tài sản, nếu tài sản của bên nào thì bên đó chịu trách nhiệm.

            Hỏi: Khách hàng đã đầu tư nhánh rẽ vào nhà, nay muốn ngành điện hoàn trả lại. Theo quy định thì không thực hiện được, có khách hàng đã thực hiện như sau:

            - Xin thanh lý hợp đồng, Điện lực thu hồi điện kế, khách hàng thu hồi vật tư.

            - Tạm sử dụng hộ kế cận một thời gian, sau đó xin cấp điện mới. Lúc này Điện lực bắt phải gắn điện kế và đầu tư toàn bộ nhánh dây. Trường hợp này không thể từ chối cấp điện được. Đề nghị Bộ Công nghiệp có quy định như thế nào để hạn chế phát sinh, không làm lãng phí vốn nhà nước, dành vốn đầu tư cho công trình điện khác.

            Trả lời: Trước hết phải quan niệm rõ giữa cấp điện mới và hộ đã được cấp điện trước thời điểm LĐL có hiệu lực.

            Khách hàng có công tơ treo ngoài cột muốn đưa vào trong nhà, bên bán vẫn phải thực hiện nhưng phải có lộ trình, cần giải thích để khách hàng rõ.

            Khi đã đưa công tơ vào trong nhà thì nhánh rẽ đương nhiên sẽ trả lại cho bên mua. Tránh để tình trạng như thế này tái diễn.

            Hỏi: Khoản 1 Điều 3 NĐ 105: Đề nghị giải thích rõ thế nào là thoả thuận khác?
            Ví dụ: Theo điều 11 LĐL, Điện lực phải đầu tư trạm điện chuyên dùng cho khách hàng có nhu cầu, tuy nhiên thực tế ngành điện chưa đủ kinh phí để thực hiện việc này nên có thoả thuận đề nghị khách hàng đầu tư máy biến áp, như vậy ngành điện có hoàn lại chi phí cho khách hàng không? Nếu khách hàng không có kinh phí để đầu tư máy biến áp theo đề nghị thoả thuận của ngành điện thì ngành điện giải quyết như thế nào?

            Trả lời: Thoả thuận khác ở Điều 3 Nghị định 105 và trong LĐL. Về nguyên tắc bên phát phải đầu tư, nhưng cũng có thể do bên mua đầu tư ứng trước.

            Lưu ý:

            - Nếu thoả thuận hoàn lại thì bên phát phải hoàn lại;

            - Thoả thuận là mang tính tự nguyện, không nên ép khách hàng thoả thuận.

            Hỏi: Đề nghị giải thích:

            1. Điều 24 LĐL quy định: " Đơn vị phát điện, truyền tải điện, phân phối điện có trách nhiệm đầu tư và lắp đặt toàn bộ thiết bị đo đếm và thiết bị phụ trợ cho việc đo đếm điện, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

            Như vậy, Điện lực tỉnh vừa là đơn vị phân phối, vừa là đơn vị bán buôn, bán lẻ điện thì đối với chức năng bán buôn, bán lẻ có phải đầu tư lắp đặt đường dây trước công tơ, công tơ và các phụ kiện khác không? Nếu hai bên mua bán điện không thoả thuận được vị trí lắp công tơ thì cơ quan nào giải quyết?

            2. Thoả thuận vị trí lắp đó ghi trên cơ sở nào?

            Trả lời:

1. Đối với chức năng bán buôn, bán lẻ không phải đầu tư lắp đặt đường dây trước công tơ, công tơ và các phụ kiện khác. Nhưng hiện nay, Điện lực vừa làm cả chức năng phân phối, bán buôn, bán lẻ điện nên phải đầu tư… Theo quy định tại Điều 41 LĐL nghĩa vụ của đơn vị phân phối điện phải đầu tư công tơ và đường dây dẫn điện đến công tơ, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

            2. Thoả thuận vị trí lắp trên cơ sở đảm bảo mỹ quan, an toàn, thuận tiện cho bên bán ghi chỉ số và bên mua kiểm tra.

            Hỏi: Đối với khách hàng mua điện trước 1/7/2005 thì hầu hết các vật tư đều là của họ (ngoại trừ công tơ điện). Nay khách hàng yêu cầu di dời trạm biến áp chuyên dùng do họ đầu tư đường dây thì chi phí di dời do bên mua hay bên bán chịu?

            Trả lời: Nếu tài sản chưa bàn giao cho bên bán thì việc di dời, sửa chữa đường dây, trạm biến áp chuyên dùng bên mua chịu, bên bán chỉ phải đầu tư tiếp khi tài sản đó đã được nhận bàn giao.

            Hỏi: Trường hợp trạm biến áp chuyên dùng hoặc đường dây do khách hàng đầu tư nay bị hỏng để sửa chữa thì chi phí này được tính cho bên mua hay bên bán điện?

            Trước đây, một số địa phương bỏ kinh phí làm đường trục hạ thế, nếu khách hàng mua điện nào muốn đăng ký mua điện phải đóng cho địa phương một khoản tiền (từ 1.500.000-2.500.000 đồng/ hộ) và địa phương yêu cầu Điện lực chỉ bán điện khi có giấy xác nhận của địa phương. Như vậy sau 1/7/2005 những trường hợp này giải quyết như thế nào?

            Trả lời: Trường hợp này bên bán phải làm việc ngay với địa phương để tiếp nhận, không nên để tình trạng như thế này tiếp diễn dễ gây khiếu kiện.

            Hỏi: Đối với khách hàng mua điện ở cấp điện áp trung thế: Điện lực đã đầu tư lưới điện và bán điện tại chân tường rào khách hàng. Những thiết bị, vật tư (như máy biến áp hạ thế) sau hệ thống đo đếm trung thế vẫn của ngành điện, khách hàng có phải trả tiền thuê thiết bị, vật tư này hay không?

            Trả lời: Sau công tơ, trách nhiệm đầu tư là của khách hàng, trường hợp khách hàng chưa có khả năng đầu tư họ có thể thuê của Điện lực.

 

 

 

II. Xung quanh những câu hỏi về Hợp đồng mua bán điện

Hỏi: Chưa thấy Bộ Công nghiệp có hướng dẫn về các hợp đồng khác ngoài hợp đồng mua bán điện (HĐMBĐ) sinh hoạt? Vậy các căn cứ để soạn thảo các loại hợp đồng khác là gì?

Trả lời: Căn cứ Nghị định 105/2005/NĐ-CP (NĐ 105 CP), Bộ Công nghiệp chỉ hướng dẫn mẫu HĐMBĐ sinh hoạt còn các hợp đồng mua bán khác do doanh nghiệp căn cứ Luật Điện lực, Bộ luật dân sự và Luật Thương mại tự soạn thảo.

            Hỏi: Về cấp điện:

            - Ngoài các giấy tờ quy định tại điểm a khỏan 1 Điều 7 Nghị định 105, nếu tổ chức, cá nhân có các giấy tờ khác thì có hợp pháp không, ví dụ: Quyết định cấp nhà, giấy phép xây dựng, giấy chủ quyền nhà…

            - Trong trường hợp xây chung cư kinh doanh thì giấy tờ pháp lý như thế nào? (Chủ đầu tư lo thủ tục lắp điện cho khách hàng trước khi khách hàng nhận nhà).

            - Đối với giấy xác nhận tạm trú phải được hiểu như thế nào: tạm trú dài hạn, ngắn hạn, theo mẫu của ngành công an không?

            - Đối với hợp đồng thuê nhà chỉ cần có xác nhận của chính quyền địa phương xã thì đã đủ điều kiện ký hợp đồng mua bán điện chưa?

            Trả lời:

            - Điều 7 Nghị định 105 CP quy định chỉ cần một trong 4 loại giấy tờ sau: hoặc hộ khẩu, hoặc giấy chứng nhận tạm trú, hoặc giấy chứng nhận sở hữu nhà hay hợp đồng thuê nhà là hợp pháp để ký HĐMBĐ. Không cho phép sử dụng giấy phép xây dựng.

            - Sẽ căn cứ hợp đồng giữa chủ đầu tư kinh doanh nhà và đơn vị điện lực.

            - Thực hiện theo Thông tư 01 ngày 7/1/2005 về giá điện: Nừu chủ nhà bên mua ký HĐMBĐ thì cứ 4 người được tính là một hộ hưởng giá sinh hoạt bậc thang có Hợp đồng thuê nhà thời hạn 6 tháng trở lên.

            - Đủ điều kiện.

            Hỏi: Đề nghị giải thích thêm Điều 22 Luật Điện lực và Điều 7 Nghị định 105 CP? Thời hạn của các loại hợp đồng theo mục đích sử dụng là bao nhiêu năm? Theo Điều 7 Nghị định 105 CP thì các hộ ký hợp đồng mua điện sinh hoạt trước đây chỉ có giấy xác nhận số nhà tạm ( chưa có giấy chứng nhận sở hữu) thì ký hợp đồng lại có trái với Điều 7 không?

            Trả lời: Điều 22-LĐL quy định chung cho các loại hợp đồng còn Điều 7 Nghị định 105 CP chỉ quy định cho HĐMBĐ sinh hoạt. Thời hạn này do hai bên thoả thuận nhưng thời hạn tối đa là không quá 5 năm. Chỉ cần một trong số giấy tờ có xác nhận của địa phương chứng minh họ là người có giấy tờ hợp pháp trú tại địa phương là hợp pháp.

            Hỏi: Việc tranh chấp giữa bên mua và bên bán sẽ căn cứ vào nội dung hợp đồng mua bán điện. Trong hợp đồng này, chủ thể ký hợp đồng rất quan trọng (khoản 1 Điều 22), trong thực tế mua bán sang nhượng nhà người mua điện không thông báo cho bên bán về việc thay đổi chủ sở hữu nhà. Vậy khi vi phạm sử dụng điện được phát hiện, bên bán điện xử lý như thế nào khi người mua đứng tên trên hợp đồng đã dọn đi chỗ khác mà không biết chỗ ở. Chủ nhà mới có trách nhiệm gì?

            Trả lời: Trách nhiệm kiểm tra là của bên bán điện. Đây cũng là đặc thù việc kinh doanh bán điện. Nên nếu có vi phạm sử dụng điện mà không bắt được chủ cũ thì đành chịu vì quan hệ mua bán với chủ cũ chứ không phải chủ mới. Trường hợp này yêu cầu chủ mới ký lại HĐMBĐ, nếu họ không ký lại thì có quyền ngừng cấp điện.

            Hỏi: Sự thoả thuận khác tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 105, khoản 1 Điều 24 LĐL: Bên mua đề nghị bên bán cung cấp điện bằng hệ thống ngầm hoá đến nơi đo ghi (trước đây UBND TP Hồ Chí Minh có quy định đối với khu dân cư mới thì phải ngầm hoá). Do nguồn vốn đầu tư ngầm hoá quá cao, bên bán điện cung cấp hệ thống nổi, bên mua không đồng tình, vậy giải quyết ra sao?

            Trả lời: Đã là quy hoạch ngầm hoá thì phải thực hiện. Những trường hợp cụ thể về cấp điện lại phải có xác thực của cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương. Trường hợp cả khu vực chưa có đường cáp ngầm nào mà người mua điện lại đòi cung cấp bằng một đường cáp ngầm riêng thì chắc chắn phải có sự thoả thuận.

            Tương lai gần ở đô thị mới là phải ngầm hoá. Tại Hà Nội từ năm 1992-2005 đã và đang thực hiện chương trình ngầm hoá. Khi công việc ngầm hoá đã hoàn thành thì đương nhiên việc cấp điện cũng phải đồng bộ.

            Hỏi: Theo quy định của UBND TP Hồ Chí Minh, khi quy hoạch mới khu dân cư hay xây dựng chung cư mới, đơn vị đầu tư phải đầu tư cơ sở hạ tầng (đường, điện, nước). Vởy đối với LĐL, nhà đầu tư đề nghị ngành điện bỏ vốn đầu tư khi quy hoạch (chưa có ai ở), ngành điện từ chối thì có đúng luật không?

            Nếu nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư đến từng hộ, sau đó bàn giao bên bán quản lý, không bồi hoàn tiền đầu tư thì có sai Luật không?

            Trả lời: Những trường hợp này phải có hợp đồng cụ thể với nhà đầu tư.

            Hỏi: Điểm a khoản 1 Điều 7 Nghị định 105 CP quy định điều kiện ký hợp đồng mua bán điện sinh hoạt, xin hỏi:

            - Giấy tạm trú bao nhiêu lâu mới được ký hợp đồng mua điện (có loại tạm trú 3 tháng, 6 tháng) đề nghị hướng dẫn cụ thể.

            - Hợp đồng mua nhà có thời hạn bao nhiêu lâu mới xem là hợp lý để ký HĐMBĐ sinh hoạt (có cần công chứng hợp đồng thuê nhà không)?

            Trả lời: Căn cứ Thông tư 01, tức là giấy tạm trú có thời hạn là 6 tháng.

            - Tương tự như trường hợp tạm trú (6 tháng), nếu ngắn hạn hơn đề nghị sử dụng điện của chủ cho thuê nhà. Không cần công chứng, chỉ để lại lưu hồ sơ một bản sao sau khi đã cho bên bán điện xem bản chính.

            Hỏi: Khoản 2 Điều 20: Mua bán điện chỉ được quy định thông qua hợp đồng có thời hạn. Tại sao không quy định hợp đồng không thời hạn để giảm được việc tái ký hợp đồng mất nhiều công sức và phiền hà cho khách hàng (giá điện sẽ nằm ở phụ lục, khi nào thay đổi giá chỉ cần thay phụ lục).

            Trả lời: Bộ Công nghiệp đã soạn thảo mẫu HĐMBĐ. Tại Quyết định số 08/2006/QĐ-BCN, trong đó đã quy định: nếu hai bên không có yêu cầu chấm dứt hợp đồng thì hợp đồng mặc nhiên được gia hạn.

            Hỏi: Trường hợp chưa đủ điều kiện do chưa có lưới điện hạ áp thì địa phương có đầu tư lưới điện hạ áp không?

            Trả lời: Đây là nhiệm vụ của đơn vị điện lực, không phải của địa phương.

            Hỏi: Điều 7 Nghị định 105 chỉ nói về hợp đồng mua bán điện sinh hoạt, vậy có thể đề nghị thêm một điều về hợp đồng kinh tế?

            Trả lời: Hợp đồng kinh tế do các doanh nghiệp tự thoả thuận.

            Hỏi: Một người có nhiều nhà, có gắn được nhiều công tơ hay không?

            Trả lời: Theo Thông tư 01: Mỗi căn nhà phải ký một hợp đồng. Như vậy một người có nhiều nhà phải ký nhiều hợp đồng.

            Hỏi: Nhằm mở rộng thị trường bán điện ở một số địa phương phần đầu tư bán điện trực tiếp đến hộ dân nông thôn là do các tổ chức quản lý điện nông thôn đầu tư bán điện. Theo LĐL ngành điện có được phép tham gia đầu tư bán điện trực tiếp đến hộ dân nông thôn không? Nừu địa phương không đồng ý ngành điện đầu tư thì có sai Luật không?

            Trả lời: Trong các thành phần kinh tế có cả ngành điện, ngành điện đầu tư không sai. Địa phương không đồng ý có thể vì những lý do khác nữa.

            Hỏi: Theo Nghị định 45 CP (đã hết hiệu lực): Điều 27.1 quy định Điều kiện để ký HĐMBĐ dân sự; Điều 28.1 quy định Điều kiện để ký hợp đồng kinh tế. Nhưng theo Nghị định 105 CP: Điều 7.1 quy định: Điều kiện để ký HĐMBĐ phục vụ mục đích sinh hoạt, không có điều khoản hướng dẫn điều kiện ký Hợp đồng kinh tế. Điều 36 Nghị định 105 nêu: Nghị định 105 CP thay thế Nghị định 45 CP, vậy thì khi áp dụng vào thực tế để cung cấp điện hoặc từ chối cung cấp điện (hợp đồng kinh tế) thì căn cứ vào văn bản nào?

            Trả lời: Hiện nay chỉ có một loại Hợp đồng với những mục đích khác nhau. Riêng với mục đích sử dụng điện sinh hoạt Bộ Công nghiệp ban hành mẫu, còn các hợp đồng khác do các doanh nghiệp thương thảo trên cơ sở Bộ Luật dân sự, Luật Thương mại và LĐL. Việc từ chối cấp điện chỉ có hai lý do: chưa có lưới điện hoặc lưới quá tải và có xác nhận của Cục Điều tiết Điện lực.

 

 

 

 

III: Những vấn đề liên quan đến việc thanh toán tiền điện

            Hỏi: Việc ngừng cung cấp điện đối với các cơ quan như quân đội, công an, bệnh viện…. nếu thanh toán tiền điện không đúng thời hạn và không thoả thuận được thì việc ngừng cung cấp điện có đúng Luật không? (tại khoản 6 Điều 23 LĐL)

         Trả lời: Đối tượng áp dụng LĐL nêu tại Điều 2 là " Luật này áp dụng cho mọi tổ chức, cá nhân hoạt động điện lực, sử dụng điện…" nên việc ngừng, giảm mức cung cấp điện không phân biệt đối tượng sử dụng trên.

            Hỏi: Theo quy định tại khoản 5 Điều 23 của LĐL thì "… trong thời gian chờ đợi giải quyết, bên mua điện vẫn phải thanh toán tiền điện và bên bán điện không được ngừng cấp điện". Trong trường  hợp này nếu bên mua điện không thanh toán tiền điện, bên bán điện có thể áp dụng quy định tại khoản 6 Điều 23 để ngừng cấp điện được không?

         Trả lời: Không áp dụng khoản 6 Điều 23 mà chỉ áp dung khoản 2, khoản 3 Điều 23 sau khi cơ quan tài phán quyết, khoản 5 Điều 23 ghi rõ: "trong thời gian chờ đợi giải quyết, bên mua điện vẫn phải thanh toán tiền điện và bên bán điện không được ngừng cấp điện".

            Hỏi: Trường hợp bên bán thu thiếu tiền điện thì giải quyết như thế nào? Tại sao không có quy định trong Điều 23 LĐL.

         Trả lời: Trước hết phải xác định xem lỗi của bên nào: Lỗi của bên mua thì phạt chậm trả. Lỗi của bên bán thì phải thương lượng với bên mua điện…..

            Hỏi: - Trong thời gian yêu cầu bên bán điện xem xét lại số tiền điện hoặc chờ hoà giải hoặc kết luận của toà án thì có tính vào tiền lãi chậm trả không? Thời gian áp dụng tính lãi tiền chậm trả được xác định như thế nào, ngay từ lần đầu tieenkhi bên bán điện thông báo thu tiền điện hay được xác định sau ba lần thông báo.

         Trả lời: Chỉ tính tiền lãi của khoản tiền chậm trả sau khi có phán quyết của toà án. Thời gian tính lãi xuất căn cứ vào việc thoả thuận trong HĐMBĐ.

            Hỏi: Nếu bên mua điện có khiếu nại tiền điện, không đồng ý thanh toán nhưng không khởi kiện ra toà thì bên bán phải giải quyết như thế nào?

            Nếu không quy định về thời gian giữa các lần báo đòi nợ thì có thể gửi 3 lần thư báo trong cùng một ngày và trên thông báo lần 3 có ghi rõ thời gian ngừng cấp điện sau 15 ngày có được quyền ngừng cấp điện không?

         Trả lời: Bên bán điện phải đến Sở Công nghiệp làm công tác hoà giải, nếu hoà giải không xong bắt buộc phải ra toà.

         - Trong Quy trình kinh doanh nên hướng dẫn cụ thể. Theo chúng tôi nếu báo  hẹn ngày trả 1 lần, khách hàng không trả, báo lần 2 v.v… Đặc biệt trong HĐMBĐ cần thoả thuận chi tiết.

            Hỏi: Trong thời gian chờ giải quyết khiếu nại, bên mua điện vẫn phải thanh toán tiền điện nhưng nếu bên mua không thanh toán tiền điện thì có hình thức gì để xử lý bên mua khi bên bán

            Theo giải thích thì bên mua phải trả lãi xuất chậm trả thì việc trả lãi xuất này tính toán ra sao?

            Trả lời: Như đã giải thích ở trên. Việc tính lãi suất này hai bên đã có cam kết trong HĐMBĐ nên tài khoản được ghi trong hợp đồng đăng ký ở ngân hàng nào thì tính theo lãi suất tại ngân hàng đó .

            Hỏi: Về việc thanh toán tiền điện, bên bán điện chỉ được phép ngừng cấp điện sau 03 lần thông báo, có cần phải ký xác nhận của khách hàng đủ 3 lần không? Và người ký xác nhận không phải là chủ thể ký hợp đồng thì có giá trị không?

            Trả lời: trước hết việc thông báo phải bằng giấy. Thông báo lần 2 do lần 1 chưa trả, lần 3 do lần 2 chưa trả. Người ký xác nhận không nhất thiết phải là chủ thể ký mà người ký cần chứng minh được là người của bên mua.

            Hỏi: Khách hàng và Điện lực thoả thuận thời gian ngừng cấp điện ngắn hơn thời hạn theo quy định tại Điều 23 LĐL (15 ngày) có được không? Cụ thể: " Khi bên mua điện không trả tiền điện và đã được bên bán điện thông báo thì sau bảy ngày, kể từ ngày thông báo lần đầu tiên, bên bán điện có quyền ngừng cấp điện"

            Trả lời: Việc thoả thuận ngày trả tiền điện ngắn hơn thời hạn theo quy định do hai bên thoả thuận trong hợp đồng nhưng việc cắt điện chỉ sau 15 ngày, sau khi bên bán điện đã thông báo đủ 3 lần đòi. Trường hợp này nên giải thích rõ cho khách hàng đó là quy định của Luật.

            Nếu ép khách hàng là vi phạm Luật.

            Hỏi: Xin giải thích từ "thông báo" trong điều 23 LĐL. Trường hợp thông báo được bên bán gửi bằng giấy thông báo, nhưng vì lý do khách quan, thông báo không đến tay bên mua (chủ hợp đồng) thì thông báo có được tính là một lần trong 3 lần thông báo hay không?

            Trả lời: Tại QĐ số 39/2005/QĐ-BCN quy định về điều kiện, trình tự và thủ tục ngừng, giảm mức cung cấp điện đã quy định: "Thông báo ngừng, giảm mức cung cấp điện được thực hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc bằng một trong các hình thức: Văn bản, điện báo, điện thoại, fax, thư điện tử (email) do hai bên thoả thuận và ghi trong HĐMBĐ. Thông báo tại Điều 23 LĐL là bằng giấy. Khi ký hợp đồng phải thoả thuận kỹ, lường hết mọi khả năng.

            Hỏi: Có thể thanh toán tiền điện theo cam kết giữa hai bên được không? Đề nghị bổ sung phương thức, thời hạn thanh toán đối với từng đối tượng cụ thể.

            Trả lời: Hợp đồng là sự thoả thuận và cam kết với nhau trên cơ sở những quy định cụ thể.

            Hỏi:  Căn cứ khoản 6 Điều 23: Khi bên mua điện không thanh toán tiền điện thì một trong các điều kiện cần để bên bán điện ngưng cung cấp điện là phải thông báo 3 lần. Chúng tôi hiện đang áp dụng cách thông báo như sau: lần 1 thu tiền, lần 2 gửi giấy báo, lần 3 thu tiền lần 2. Do khách hàng không có nhà, vậy tính pháp lý này khi có tranh chấp đã đủ thắng cho bên bán chưa?

            Trả lời: Không được lẫn lộn giữa thông báo và thu tiền. Trong thông báo phải thể hiện rõ thời gian thông báo, lượng tiền phải trả, nếu đến thu lần 1, không trả được thì gửi ngay thông báo lần 2….. Việc này trong NĐ 80/HĐBT chúng ta đã thực hiện (Có nơi còn in thông báo 3 màu xanh, vàng, đỏ tương đương với 3 lần đòi)

            Hỏi: Thanh toán tiền điện thuỷ nông có phải là ưu đãi của Nhà nước không? Điện nông thôn còn có ưu đãi gì?

            Trả lời: LĐL đã có một chương riêng về điện phục vụ nông thôn, miền núi, hải đảo, trong đó có chính sách phát triển điện, đầu tư phát triển điện, giá bán lẻ điện ở nông thôn, miền núi, hải đảo, thanh toán tiền điện thuỷ nông là những ưu đãi.

            Hỏi: Đối với tiền điện thuỷ nông có áp dung 3 lần đòi và sau 15 ngày cắt điện không?

            Trả lời: Thời hạn thanh toán đối với doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi tối đa không quá 120 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo thanh toán tiền điện. Theo tôi không áp dụng Điều 23 của LĐL (sau 15 ngày cắt điện) mà số lần thông báo đòi nợ được hai bên thoả thuận trong HĐMBĐ. Việc ngừng cấp điện vẫn phải theo quy định tai QĐ số 39/2005/QĐ-BCN.

 

 

 

IV: Những vấn đề liên quan đến ngừng, giảm mức cung cấp điện

Hỏi:Trường hợp khẩn cấp phải ngừng cấp điện phải thông báo cho bên mua điện trong thời hạn 24 giờ. Có phải là mất điện dài hơn 24 giờ thì phải thông báo không? Trường hợp mất điện ngắn hơn 24 giờ thì sao?

Trả lời: Không liên quan gì đến thời gian mất điện, đây là trách nhiệm thông báo của bên bán điện được quy định tại Quyết định số 39/2005/QĐ-BCN ngày 23/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp về việc ban hành Quy định về điều kiện, trình tự và thủ tục ngừng, giảm mức cung cấp điện.(Hướng dẫn Điều 27 LĐL) Không quy định thời gian rất ngắn cũng gây tổn thất lớn cho khách hàng.

Hỏi: Tại khoản 2 Điều 27 Luật Điện lực quy định bên phân phối điện được ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện đối với bên mua điện để xử lý và trong thời hạn 24 giờ phải thông báo cho bên mua điện biết nguyên nhân, dự kiến thời gian cấp điện trở lại. Nếu xử lý sự cố nhanh có phải thông báo cho bên mua điện không?

Trả lời: Theo quy định, vẫn phải thông báo nguyên nhân mất điện để tránh những tranh chấp sau này. Đặc biệt đối với khách hàng hay có tranh chấp.

Hỏi: Trường hợp khách hàng không sử dụng điện trong thời gian dài? Chế tài ra sao?

Trả lời: Trong mẫu HĐMBĐSH, có quy định quyền và nghĩa vụ của bên bán điện: “Đơn phương chấm dứt hợp đồng khi Bên mua điện không sử dụng điện quá sáu tháng mà không thông báo trước cho Bên bán điện”. Các hợp đồng mua bán điện khác nếu thấy cần hai bên nên thoả thuận.

Hiện chưa có chế tài quy định xử phạt về việc này.

Hỏi: Tại điều 7 Luật Điện lực có quy định 11 hành vi bị cấm trong hoạt động điện lực và sử dụng điện nhưng không thấy ghi biện pháp chế tài. Vậy khi vi phạm ai xử lý và xử lý như thế nào?

Giao dịch giữa đơn vị điện lực bán lẻ điện cho khách hàng bằng hợp đồng, vậy khi khách hàng sủ dụng điện vi phạm hợp đồng, đơn vị Điện lực có quyền không tiếp tục bán lẻ cho khách hàng đó không?( không bán vĩnh viễn được không).

Trả lời: Chế tài nằm trong NĐ 74CP: quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực ĐL và các nghị định xử phạt vi phạm hành chính khác, theo quy định của Bộ luật dân sự.

Người đựoc quyền xử lý NĐ 74CP cũng đã quy định.

Nếu vi phạm hợp đồng thì xử lý theo vi phạm hợp đồng. Bộ đã ban hành Quy định kiểm tra hoạt động điện lực và sử dụng điện, quyền tranh chấp hợp đồng MBĐ. Ban hành kèm theo Quyết định số 31/2006/QĐ-BCN nfgày 06/9/2006 của Bộ trưỏng Bộ công nghiệp.

Hỏi: Trước đây NĐ 45 có điều khoản đề cập đến trách nhiệm  bảo vệ công tơ của Bên mua điện, trong đó có đề cập đến việc bảo vệ cả chì niêm phong. Tuy nhiên NĐ 105 Điều 12 cũng có đề cập nhưng không ghi rõ kể cả bảo vệ chì niêm phong. Điều này gây khó khăn cho việc xử lý vi phạm các trường hợp đứt chì, mất. Đề nghị giải htích rõ hơn.

Trả lời: Làm gì ảnh hưởng đến công tơ là vi phạm các hành vi bị cấm đã quy định tai khoản 1, Đ7-LĐL: “Phá hoại các trang htiết bị điện, thiết kế đo đếm điện và công trình điện”.

Trước khi nói đến điều 12, NĐ105CP xin đề cập đến điều 8 của NĐ này, điều 8 đã nêu rõ các hành vi vi phạm của bên mua trong đó có hành vi: “Gian lận trong việc sử dụng điện dưới mọi hình thức”, phá chì niêm phong là hành vi vi phạm. Điều 12: “Bảo vệ công tơ đặt trong phạm vi quản lý của mình theo thoả thuận trong HĐMBĐ”. Đây là cơ sở quan trọng cho việc ký HĐMBĐ, nên quy định kỹ trong hợp đồng MBĐ, không chỉ việc chì, còn tính nguyên vẹn của vỏ công tơ, hộp bao công tơ, càng quy định chi tiết càng thuận lợi cho việc giải quyết sau này.

Hỏi: Trường hợp  ngừng giảm mức cung cấp điện không khẩn cấp. Vì lý do phải giải quyết sử cố, việc báo tạm  ngừng cung cấp điện sau 05 ngày, ví dụ 4 ngày, 3 ngày… có được không?

Báo trước 05 ngày ví dụ 10 ngày, 15 ngày có được không?

Trả lời: Tại QĐ 39/2005/QĐ-BCN quy định:

Trong trường hợp ngừng, giảm mức cung cấp điện không khẩn cấp, Bên bán điện phải thông báo cho Bên mua điện biết trước thời điểm ngừng, giảm mức cung cấp điện ít nhất năm ngày. Theo đó:

Nếu báo trước ít hơn 05 ngày là không đúng quy định. Điều này yêu cầu bên bán điện phải có kế hoạch chu đáo trước khi thông báo cho khách hàng.

Báo trứoc trên 05 ngày là được, tạo điều kiện cho khách hàng có kế hoạch ngừng sản xuất kết hợp với đại tu, sửa chữa. Những trường hợp cụ thể báo trước là bao nhiêu ngày nên thoả thuận kỹ để hai bên thoả thuận trong hợp đồng là tốt nhất.

 

 

V. Những vấn đề liên quan đến công tơ điện.

Hỏi: Bên bán đàu tư trạm biến áp, công tơ điện, dây đến công tơ theo đúng quy định (kể cả thời gian đầu tư đảm bảo đúng thời hạn). Nhưng do yêu cầu của bên mua điện cần sử dụng điện trong mục đích xây dựng công trình với công suất sử dụng nhỏ, bên bán điện cấp điện qua một trạm biến áp khác. Như vậy chi phí vật tư đầu tư đến công tỏ bên mua điện hay bên bán điện đầu tư?

Trả lời: Trường hợp này (phải hiểu bên bán ở đây có cả chức năng phân phối điện) chi phí đầu tư vật tư đến công tơ bên bán phải chịu nếu không có thủa thuận khác.

Hỏi: Một số công tơ nhiều tháng không sử dụng điện (không có sản lượng) thậm chí nhiều năm không dùng điện, có những khách hàng đã chuyển đi chỗ khác nhưng không báo cho bên bán điện. Trường hợp này giải quyết như thế nào? Bên bán điện có thể tự thanh lý hợp đồng và tháo rỡ hệ thống đo đếm sau thời gian bao lâu không dùng điện?

Nếu tiếp tục để công tơ như vậy thì bên bán sẽ lãng phí vốn đầu tư ban đầu và chụi nhiều tổn thất.

Trả lời: Đối với việc mua bán điện sinh hoạt, tại khoản 3 Điều 6, đã quy định cho bên bán được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi bên mua điện không sủ dụng điện quá sáu tháng mà không thông báo cho bên bán điện.

Đối với hợp đồng mua bán điện khác cũng nên quy địng cụ thể.

Như vậy bên bán điện có thể tự thanh lý hợp đồng và tháo rỡ hệ thống đo đếm.

Hỏi: Hiện nay ở nước ta việc kiểm định, kẹp chì niêm phong thiết bị đo đếm điện do công ty phân phối điện hoặc Điện lực các tinh, thành phố thực hiện theo uỷ quyền hoặc giấy phép của cơ quan quản lý nhà nước về đo lường, đề nghị cho biết:

1.Trong trường hợp này việc uỷ quyền, cho phép của cơ quan quản lý nhà nước về đo lường có đúng không?

2. Thực hiện kiểm định trên có đảm bảo được độ tin cậy và có phù hợp với luật Điện lực không? Hướng giải quyết tối ưu trường hợp này.

Trả lời: 1. Theo pháp lệnh về đo lường: Cơ quan nào uỷ quyền thì cơ quan đó phải chịu trách nhiệm. Phù hợp với Điều 25 của luật ĐL: “Chỉ những tổ chức có thẩm quyền hoặc được uỷ quyền theo quy định của cơ quan quản lý nhà nước về đo lường mới được phép kiểm định thiết bị đo đếm điện”

2. Hướng giả quyết tối ưu trong trường hợp này các doanh nghiệp được uỷ quyền phải được thực hiện nghiêm túc, các cơ quan chức năng phải tăng cường kiểm tra, xử lý kịp thời.

Hỏi: Tại khoản 3 Điều 11 Luật Điện lực quy định Đơn vị bán điện có trách nhiệm  đầu tư đến công tơ bán điện. Đề nghị cho biết nếu khách hàng mua điện sản xuất trung thế thì công tơ đo đếm đặt trước máy biến thế phân phối. Trường hợp này, ngành điện chỉ đầu tư đường dây dẫn đến công tơ, còn khách hàng trạm điện có đúng không?

Trả lời: Đúng. Nhành điện đầu tư và lắp đặt toàn bộ các thiết bị đo đếm và thiết bị phụ trợ cho đo đếm điện đén công tơ. Nếu công tơ ở phía cao thế thì khách hàng phải làm  trạm điện và họ được hưởng giá phía cao thế. Lưu ý phầ sau công tơ là của khách hàng.

Hỏi: Tại Điều 14 NĐ 105 hướng dẫn giải quyết các trường hợp công tơ điện chạy nhanh, mất hoặc ngừng hoạt động. Riêng đối với các trường hợp công tơ điện chạy chậm do mất tín hiệu TU, TI thì phải giải quyết như thế nào? Tiền điện phải thanh toán được tính ra sao?

Trả lời: Luật Điện lực không quy định bên mua phải bồi hoàn. Vì vậy bên bán phải tăng cường trách nhiệm.

Hỏi: Các đơn vị điện lực khu vực được xem là đơn vị phân phối hay đơn vị bán lẻ điện. Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 44: Việc không thu tiền gắn với điện kế hiện nay có gì sai không? Cần phải đánh giá rõ sự việc để tránh thất thoát về phía điện lực và nhà nước.

Trả lời: Đơn vị Điện lực, cụ thể là các Công ty ĐL, ĐL tỉnh, TP hiện nay bao gồm cả chức năng của đơn vị phân phối, bán buôn, bán lẻ điện. Việc bóc tách có thể thực hiện sau khi thị trường DDL hình thành.

Không sai, tại điểm c, khoản 2, Điều 41 LĐL quy định trách nhiệm của đơn vị phân phối điện: đầu tư công tơ và đường dây dẫn điện đến công tơ cho bên mua điện , trừ trường hợp có thoả thuận khác với bên mua.

Hỏi Trường hợp điện lực lắp đặt điện kế điện tử (dùng thẻ trả trước) cho khách hàng, nếu khách hàng hết tài khoản trong thẻ thì áp dụng khoản 5,6 Điều 23 Luật Điẹn lực thì xử lý như thế nào?

Trả lời: Mua điện bằng thẻ trả trước chưa có ở VN. Nhưng nếu có thì cũng sử dụng tương tự như thẻ điện thoại.

Hỏi: 1. Điện kế bị phá chì, khoan lỗ vỏ hộp số có được xem là vi phạm quả tang không?

2. Hướng dẫn rõ về thue tục và xử lý biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực.

Trả lời: Phạm pháp quả tang: "Đúng lúc đang làm việc vụng trộm với đầy đủ chứng cứ". Tuy hành vi không bắt được khi đang làm, nhưng đay là hành vi phá hoại trang bị điện (Hành vi bị cấm- Điều 7). Vì vậy trước khi bàn giao công tơ cho khách hàng phải ghi đầy đủ tình trạng công tơ, tính nguyên vẹn của viên chì niêm phong.

Thực hiện theo NĐ74 và TT03.

Hỏi: 1. Khoản 1 Điều 7 NĐ 105: Bên mua điện đề nghị gắn điện kế tại nhà không số và có giấy chứng nhận tạm trú tại nhà không số, theo quy định của Luật Điện lực bên bán sẽ từ chối. Tại các quận TP Hồ Chí Minh, do quy hoạch số nhà chưa kịp thời, tình trạng như trên rất nhiều. Nếu ngành điện vẫn cung cấp, nếu sảy ra tranh chấp bên bán có vi phạm không?

Trả lời: Căn cứ vào địa chỉ chính quyền địa phương cấp. Không thể vì lý do này mà không cấp điện được. Hợp đồng mua bán điện còn cả số chứng minh thư.

Hỏi: 1. Tại khoản 3 Điều 24: Vị trí lắp đặt công tơ phải được sự thoả thuận của hai bên. Nếu ngành điện đề nghị được gắn trước nhà khách hành để chống ăn cắp điện và tiện cho việc ghi công tơ điện, nhưng khách không đồng ý thì bên bán điện thực hiện có sao không?

2. Tại khoản 4 Điều 25: Khi có yêu cầu của bên mua, sau khi kiểm định điện kế, nếu chạy nhanh thì bên bán phải hoàn trả việc thu thừa. Vậy khi điện kế chạy chậm thì sao?

Trả lời: 1. Việc gắn công tơ về nguyên tắc phải ở vị trí của bên mua điện. Việc thoả thuận do bên mua quyết định, bên bán điện thương lượng về tính hợp lý nhưng không áp đặt.

2. Khi điện kế chạy chậm không có quy định bên mua phải trả lại cho bên bán như các văn bản pháp luật trước đây, vì vậy bên bán phải tăng cường công tác quản lý để giảm thiểu điện kế chạy chậm.

 

(Sưu tầm)

 

Các tin khác
Chấm dứt cắt điện luân phiên (Thứ sáu, 2-7-2010 )
Điện mặt trời cho mỗi nhà (Thứ năm, 1-7-2010 )

Các tin đã đưa ngày:   

1
| Tranh Phong Thuy | Tranh Phong Thuy | Tranh Phong Thuy |< /div>

Cơ quan chủ quản : SỞ CÔNG THƯƠNG BẮC GIANG.
Đơn vị phụ trách trang tin điện tử : TRUNG TÂM XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI BẮC GIANG.
Địa chỉ : 01 đường Đàm Thuận Huy - TP Bắc Giang - Tel: 0240.3828607 /Fax: 0240.3828607
E-mail : tuxttmbg@gmail.com
Toàn c?nh thuong m?i di?n t? Vi?t Nam| Thi truong viet nam | Xe va the thao | Unlock DTDD | K?t qu? x? s? |